10.797222346,106.677222250

Chung sống như vợ chồng có vi phạm pháp luật không?

07/09/2021 - 11:09:06 PM | 409

Hiện nay, với tình hình dịch bệnh Covid-19 bùng phát mạnh, nhiều tỉnh, thành phố phải thực hiện các Chỉ thị của nhà nước. Từ đó dẫn đến, các cơ quan có thẩm quyền hạn chế việc tiếp nhận hồ sơ của công dân nên dẫn tới việc kết hôn của nam nữ bị cản trở. Vì vậy, nhiều người hiện tại chỉ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Liệu pháp luật có cho phép nam nữ được chung sống như vợ chồng?

Câu hỏi: Tôi và anh A cùng sống và làm việc tại Đồng Nai đã được 2 năm. Vì có tình cảm với nhau, nên tôi và anh A quyết định chung sống với nhau. Sau này, chúng tôi có ý định kết hôn nhưng vì dịch bệnh bùng phát, ủy ban nhân dân xã không tiếp nhận hồ sơ của chúng tôi. Được sự cho phép của hai bên gia đình, chúng tôi vẫn chung sống với nhau. Nhưng bạn bè lại khuyên tôi không nên vì chung sống như vợ chồng có thể vi phạm pháp luật. Liệu có đúng như vậy không?

1. Thế nào là chung sống như vợ chồng?

Khoản 7 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 định nghĩa: Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng. Điều này được hiểu là nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Việc chung sống này được chứng minh bằng việc họ có đời sống sinh hoạt chung, có tài sản chung, có con chung với nhau và được mọi người xung quanh thừa nhận là vợ chồng.

chung sống như vợ chồng

2. Chung sống như vợ chồng có vi phạm pháp luật?

Theo quy định của pháp luật, tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì chung sống như vợ chồng là hành vi bị cấm nếu: 

+ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

+  Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Trên cơ sở đó, nếu cả hai còn độc thân, có đủ điều kiện kết hôn nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn, đồng thời không có quan hệ phạm vi ba đời, cùng dòng máu trực hệ, hay quan hệ cha mẹ nuôi, con nuôi; quan hệ cha dượng, mẹ kế với con riêng; mẹ vợ - con rể; cha chồng – con dâu thì việc chung sống như vợ chồng không vi phạm pháp luật. 

3. Xử lý trường hợp chung sống như vợ chồng trái pháp luật

Pháp luật hiện hành quy định về xử phạt khi có hành vi chung sống như vợ chồng trái pháp luật bao gồm: xử phạt vi phạm hành chính hoặc áp dụng chế tài hình sự. 

Về xử phạt vi phạm hành chính, căn cứ Điều 59 Nghị định 82/2020 của Chính phủ, hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng xử lý như sau:

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

+ Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

+ Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

+ Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;

Còn đối với pháp luật hình sự, tại Điều 182 Bộ luật hình sự 2015 thì hành vi chung sống như vợ chồng có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm nếu: người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ còn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Ngoài ra, hình phạt có thể tăng nặng nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

+ Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Như vậy, thông qua các quy định của pháp luật, luật sư tư vấn hôn nhân gia đình của công ty đưa ra lời tư vấn như trên với câu hỏi của chị. Nếu anh, chị thỏa mãn các điều kiện về kết hôn đồng thời không thuộc vào một trong các điều cấm nếu trên thì việc chung sống như vợ chồng không bị coi là vi phạm pháp luật. Với nội dung tư vấn này, trường hợp còn vướng mắc hay chưa rõ, quý anh chị có thể tham khảo các bài viết khác của công ty hoặc liên hệ trực tiếp để được gặp luật sư tư vấn.

Liên hệ qua Hotline:

094 221 7878 - Ls Trần Trọng Hiếu Trưởng CN là người trực tiếp tư vấn;

096 267 4244 - Ls Trần Trọng Hiếu Trưởng CN là người trực tiếp tư vấn.

Liên hệ trực tiếp tại địa chỉ:

- Số 15 đường 21, phường Bình An, Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh;

- Số 60A đường 22, phường Phước Long B, Quận 9, Tp.Hồ Chí Minh.

Liên hệ qua Zalo - Facebook:

Zalo: 094 221 7878 – Facebook: Saigon Law Office

Liên hệ qua Email:

Saigonlaw68@gmail.com

Luatsutronghieu@gmail.com

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý Khách Hàng!

>> Xem thêm:

- Văn phòng luật sư Long An

- Văn phòng luật sư Long Thành

- Văn phòng luật sư Dĩ An

Bài viết mới nhất

Chung sống như vợ chồng là việc nam nữ tổ chức cuộc sống chung, coi nhau là vợ chồng. Điều này được xem là vi phạm pháp luật trong những trường hợp sau.

chung sống như vợ chồng

Zalo
Gọi điện SMS Chỉ đường
Hotline tư vấn miễn phí: 096 267 4244