Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần do điều khoản trái pháp luật

Tư Vấn Luật Hình Sự - Luật Sư Tố Tụng Viva Law Firm | Luật Sư Đất Đai
Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần do điều khoản trái pháp luật
08/02/2023 11:32 673 Lần

    Hiện nay người sử dụng lao động có xu hướng đưa vào hợp đồng lao động những điều khoản trái với quy định của pháp luật về lao động. Tuy nhiên vì không hiểu rõ luật hoặc quá cần công việc mà người lao động không thể từ chối giao kết hợp đồng, dẫn đến hợp đồng lao động vô hiệu từng phần. Vậy người lao động cần làm gì để xử lý hợp đồng vô hiệu từng phần? Hãy cùng Luật sư tư vấn lao động của Công ty Luật TNHH VIVA chúng tôi sẽ giải đáp cho các bạn thông qua tình huống sau:

    Tình huống: Chào Luật sư, tôi vừa ký hợp đồng lao động với công ty A, trong hợp đồng có điều khoản rằng tôi không được mang thai trong thời gian làm việc tại đây. Tôi muốn hỏi điều khoản này có trái pháp luật hay không, nếu phải thì xử lý như thế nào?

    1. Những trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu

    Theo Điều 49 Bộ luật Lao động 2019, hợp đồng lao động vô hiệu được chia làm hai trường hợp: hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ và hợp đồng lao động vô hiệu từng phần.

    Thứ nhất, hợp đồng lao động được coi là vô hiệu toàn bộ khi thuộc một trong các trường hợp như: toàn bộ nội dung của hợp đồng vi phạm pháp luật, người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động,  công việc mà hai bên đã giao kết trong hợp đồng là công việc bị pháp luật cấm.

    Thứ hai, hợp đồng lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.

    Trong trường hợp của bạn, không được mang thai trong thời gian làm việc và nếu mang thai thì bạn đã vi phạm hợp đồng và sẽ chịu phạt có thể là kỷ luật hoặc sa thải. Với điều khoản này trong hợp đồng lao động, người sử dụng lao động đang từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ đã vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 40 Luật bình đẳng giới 2006, theo đó:

    Điều 40. Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế

    3. Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

    b) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ;

    Do đó, hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng vô hiệu từng phần do điều khoản trái pháp luật, phần vô hiệu là điều khoản quy định bạn không được mang thai trong thời gian làm việc tại đây, các phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.

    Xem thêm: Điều kiện chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn đối với người lao động

    2.  Lưu ý khi giao kết hợp đồng lao động

    Thứ nhất, người sử dụng lao động có nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực cho người lao động về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội,…Nếu người lao động chưa nắm rõ những thông tin trên  thì có quyền yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp để cân nhắc trước khi ký hợp đồng lao động.

    Thứ hai, khi giao kết hợp đồng lao động người sử dụng lao động không được giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động cũng như không được yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đàm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng.

    Thứ ba, người sử dụng lao động không có quyền buộc người lao động phải ký hợp đồng lao động để trả nợ cho họ. Việc này đã trái với pháp luật lao động nước ta, người lao động nếu bị ép ký hợp đồng lao động để trả nợ thì không cần phải ký.

    Xem thêm: Hậu quả khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật

    3. Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần do trái pháp luật như thế nào?

    Việc xử lý hợp đồng vô hiệu từng phần được quy định tại Điều 9 Nghị định 145/2020-NĐ/CP theo đó người sử dụng lao động và người lao động tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thể và pháp luật.

    Trường hợp hai bên không thống nhất sửa đổi, bổ sung các nội dung đã bị tuyên bố vô hiệu thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động. Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của hai bên từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản 2 Điều này.

    Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 8 Nghị định này. Thời gian làm việc của người lao động theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian người lao động làm việc cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.

    Trong trường hợp hợp đồng lao động của bạn bị vô hiệu từng phần do có quy định trái pháp luật thì bạn có thể yêu cầu người sử dụng lao động tiến hành xóa bỏ điều khoản cam kết không mang thai trong thời gian làm việc. Trường hợp nếu người sử dụng lao động không thống nhất sửa đổi hợp đồng lao động thì bạn có thể thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động.

    Trường hợp bạn vẫn tiếp tục làm việc tại đây và mang thai, công ty muốn chấm dứt hợp đồng lao động với bạn vì vi phạm điều khoản hợp đồng thì bạn có thể kiện lên Tòa án nơi bạn giao kết hợp đồng lao động. Việc người sử dụng lao động yêu cầu người lao động nữ cam kết không mang thai đã can thiệp, cản trở quyền tự do quyết định thời điểm sinh con của cá nhân như đã phân tích ở trên.

    Do đó, dù bạn có đồng ý ký vào bản cam kết không mang thai khi làm việc, văn bản này cũng không có giá trị pháp lý.

    Nếu bạn còn thắc mắc bất kỳ vấn đề nào liên quan đến quy định về hợp đồng lao động vô hiệu từng phần. Quý khách hàng có thể liên hệ đến Công ty Luật TNHH VIVA. Để được tư vấn cụ thể và rõ ràng, quý khách hãy liên hệ đến các địa chỉ sau đây để nhận được sự hỗ trợ KỊP THỜI – TẬN TÂM – TRÁCH NHIỆM!

    Liên hệ qua Hotline:

    096 267 4244 – 093 559 6650 – Ls. Trần Trọng Hiếu là người trực tiếp tư vấn;

    Liên hệ trực tiếp tại địa chỉ:

    Số 15 đường số 21, phường An Khánh, TP. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh;

    Số 60A đường 22, phường Phước Long B, TP. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh;

    Liên hệ qua Zalo - Facebook:

    Zalo: 096 267 4244 - Facebook: Viva Law Firm;

    Liên hệ qua Email:

    Saigonlaw68@gmail.com;

    Luatsutronghieu@gmail.com.

    Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

    Zalo
    Hotline